Tiếng Việt: Qúa Trình Hình Thành và Phát Triển

Tiếng Việt: Qúa Trình Hình Thành và Phát Triển

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!  Mẹ hiền ru những câu xa vời.  Ầu ơi, tiếng ru muôn đời.”

Tiếng Việt là một báu vật diệu kỳ mà Trời đã ban cho dân tộc Việt Nam.  Hậu tự sinh ra và được hưởng một kỳ công như vậy, thật lòng mà nói, chúng ta phải biết ơn những người đã dày công tạo nên Tiếng Việt.

Quá trình hình thành và phát triển Tiếng Việt có thể chia ra bốn giai đoạn như sau:

– Chữ Việt Cổ (Trước Thế Kỷ Thứ Hai)
– Chữ Hán (Từ Thế Kỷ Thứ Hai)
– Chữ Nôm (Từ Thế Kỷ Thứ 10)
– Chữ Quốc Ngữ (Từ Thế Kỷ Thứ 17) 

CHỮ VIỆT CỔ 

Người Việt đã có ngôn ngữ riêng của mình trước khi bị đô hộ bởi nhà Hán từ phương Bắc.  Nước Văn Lang thời các Vua Hùng đã có ký tự.  Bằng chứng cụ thể nhất là thời kỳ Trống Đồng Đông Sơn (700TCN – 100SCN) đã có ghi khắc chữ Việt Cổ.

Nhiều cây bút của Việt Nam như Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm, Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, và ngay cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Pháp, Mỹ và Trung Quốc đều đã khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng trước khi chữ Hán du nhập vào.  Gần đây thầy giáo Đỗ Văn Xuyền có một bài nghiên cứu thật hay về đề tài này sau khi đã tìm đến 18 ngôi đền cổ để nghiên cứu về chữ Việt thời các Vua Hùng. 

Tiếng Việt cổ đại từ ngàn xưa

CHỮ HÁN

Chữ Hán là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc.  Chữ Hán đã du nhập vào Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam và tạo nên một vùng có sự ảnh hưởng của văn hóa Hán Tộc.

Có ý kiến cho rằng chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam từ trước Công Nguyên.  Tuy nhiên, ý kiến này không được chấp nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu.  Theo Đào Duy Anh, chữ Hán du nhập vào Việt Nam dưới thời của Thái thú Sĩ Nhiếp (137-226).  Gần 1000 năm Bắc Thuộc, hầu hết các thi văn khắc trên bia đều bằng chữ Hán. 

Số 3 chữ Hán

CHỮ NÔM

Chữ Nôm là chữ của người Phương Nam để phân biệt với chữ Hán của người Phương Bắc.  Nôm có nghĩa là Nam.  Chữ Nôm được thành hình sau khi có hệ thống âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) hiện hữu vào thời kỳ cuối nhà Đường (618-907) đầu nhà Tống (960-1279) tức là thế kỷ thứ 8 và 9.  Như vậy chữ Nôm chính thức hình thành sau thế kỷ thứ 9.  Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chữ Nôm được chính thức hình thành dưới thời của Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng (938), chấm dứt thời kỳ Bắc Thuộc, mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài cho Việt Nam.

Thế kỷ 18-19 là thời kỳ cực thịnh của chữ Nôm.  Những nhà thơ nhà văn lớn xuất hiện trong thời kỳ này như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân Công Chúa, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương…

Chữ Nôm số 3 khác với chữ Hán

Các Tác Phẩm Chữ Nôm Nổi Tiếng:

– Thạch Sanh, thể Lục Bát, Khuyết danh, cuối thế kỷ 18
– Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu, giữa thế kỷ 19
– Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, dưới triều vua Tự Đức
– Lưu Bình Dương Lễ, 788 câu Lục Bát, Khuyết danh
– Cung Oán Ngâm Khúc, 356 câu Song Thất Lục Bát, Nguyễn Gia Thiều
– Phạm Công Cúc Hoa, 4610 câu Lục Bát, tác phẩm dài nhất, Dương Minh Đức Thị
– Truyện Kiều, 3254 câu Lục Bát, tác phẩm nổi tiếng nhất, Nguyễn Du. 

CHỮ QUỐC NGỮ

Tôi xin được chia sự thành hình và phát triển chữ quốc ngữ là bốn giai đoạn:

– Giai đoạn phôi thai (Thế kỷ 17 đến 1932)
– Giai đoạn phát triển (1932-1945)
– Giai đoạn thăng hoa (1945-1975)
– Giai đoạn phát huy (1975 đến hiện tại)

Giai Đoạn Phôi Thai (Thế kỷ 17 đến 1932)

Chữ Quốc Ngữ được hình thành từ  khoảng đầu thế kỷ 17 khi các giáo sĩ Tây Phương phiên âm Tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh để học, tiếp cận và truyền giáo cho Người Việt.  Tập thể của các giáo sĩ này là J. Roiz, G. Luis, C.Borri, Gaspar d’ Amaral, Antonio Barbosa và những người dân Việt đã giúp họ học tiếng Việt  (Trần Ngọc Thêm 2001, Đặc san Văn Lang 1992).  Tên gọi chữ quốc ngữ được dùng để chỉ chữ quốc ngữ lần đầu tiên vào năm 1867 trên Gia Định Báo (Matthew A. Marcucci, 2009 “Rendering Sinograms Obsolete: Vietnamese Script Reform and the Future of Chinese Characters”).

Bên trái chữ La tinh, bên phải chữ Quốc ngữ năm 1661

Khi mới ra đời, bộ chữ này có rất nhiều khiếm khuyết như chưa có các dấu thanh, chữ viết dính liền nhau và thiếu nhiều nguyên âm cũng như một số phụ âm đơn (đ, x, v) và phụ âm kép (ch, tr, gh, nh).  Cho đến khi Giáo sĩ Alexandre de Rhodes xuất bản cuốn Từ điển Việt-Bồ- La năm 1651 thì chữ Quốc ngữ mới thực sự được hoàn chỉnh và chuẩn hoá (Trần Văn Giàu, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, “Chữ Quốc ngữ trên đất Sài-gòn Gia- định những TK XVII –XVIII-XIX”, không rõ năm xuất bản).

Những nhà văn tiền phong ấy là Trương Vĩnh Ký, Hình Tịnh Của, Trương Minh Ký, đã sáng tác văn chương, đẩy mạnh việc truyền bá chữ quốc ngữ. Trong đó Trương Vĩnh Ký soạn và cho in ra quyển Chuyện Đời Xưa vào năm 1867, còn Hình Tịnh Của soạn quyển Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, in năm 1895. Họ đã là những nhà văn lớn, gây thành những phong trào tiên phong sau nầy.

Trương Vĩnh Ký Pétrus.  Tên thật của ông, là Trương Chánh Ký sau đổi thành Trương Vĩnh Ký, tên thánh là Jean Paptiste, tên chữ là Pétrus, tự Sĩ Tải. Vì vậy người ta thường viết tên ông là Pétrus Jean Paptiste Trương Vĩnh Ký, sanh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (tục danh Cái Mơn).  Dưới đây là một bài thơ của ông.

  Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,
Xô đẩy người vô giữa đời này.
Học thức gửi tên con sách nát,
Công danh rốt cuộc cái quan tài.
Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,
Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài!
Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
 

Giai Đoạn Phát Triển (1932-1945)

1932-1945 là thời kỳ nở rộ của văn chương chữ Quốc Ngữ.  Trong giai đoạn này, chính quyền thuộc Pháp muốn tăng cường ảnh hưởng của tiếng Pháp và hạn chế ảnh hưởng của tiếng Hán tại Việt Nam.  Sự giảm sút của chữ Hán cũng dẫn đến sự suy giảm của chữ Nôm.  Dầu vậy, người Việt đáp ứng với Tiếng Pháp rất hạn chế, vì thế chính quyền thuộc địa Pháp bất đắc dĩ phải chấp nhận sự hiện hữu của chữ Quốc ngữ về văn tự.  Dựa vào cơ hội này các nhà trí thức Việt Nam muốn thoát khỏi sự ảnh hưởng của Hán ngữ và Pháp ngữ bằng cách vận động ủng hộ chữ Quốc ngữ trong công cuộc phổ biến tân học và lan truyền tư tưởng yêu nước.  Các phong trào cải cách như Hội Trí Tri, Phong Trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

Tiếp theo những cuốn truyện của các nhà văn quốc ngữ tiên phong trong gần hai thập niên đầu thế kỉ XX là các nhà văn Hồ Biểu Chánh và Hoàng Ngọc Phách vào thập niên thứ ba thế kỷ XX, đến những cuốn tiểu thuyết lãng mạn đầu tiên – Hồn bướm mơ tiên (1933) của Khái Hưng và Bướm trắng (1942) của Nhất Linh.  Chí sĩ Phan Bội Châu dùng thơ truyền thống để viết thư cho đồng bào mình (Hải ngoại huyết thư, Ngục trung thư, Lưu cầu huyết lệ tân thư,…), dùng văn chương quốc ngữ để soạn niên biểu (Phan Bội Châu niên biểu), viết văn tế (Văn tế Phan Châu Trinh).

Chữ Quốc ngữ thời 1932 

Các thể loại văn chương “tổng hợp” như tiểu thuyết – phóng sự (Cơm thầy cơm cô, Kĩ nghệ lấy Tây – Vũ Trọng Phụng, Việc làng – Ngô Tất Tố, Đồng quê – Phi Vân); Truyện ngắn-trữ tìnhhóa (Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Cô hàng xén, Quyển sách bỏ quên, Tình xưa, Sợi tóc – Thạch Lam; Tình trong câu hát, Làng, Bến nứa – Thanh Tịnh); truyện ngắn-kịch hóa (Kép Tư Bền, Người ngựa, ngựa người, Mất cái ví, Tinh thần thể dục – Nguyễn Công Hoan; Bộ răng vàng, Bà lão lòa –Vũ Trọng Phụng); truyện ngắn-tiểu thuyết hóa (Chí Phèo, Đời thừa, Lão Hạc, Dì Hảo, Nửa đêm – Nam Cao; Mợ Du – Nguyên Hồng).

Những đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn vào nền Quốc Ngữ Việt Nam

Giai Đoạn Thăng Hoa (1945-1975)

Thơ nhạc Tiền Chiến và Văn Chương Miền Nam đã góp phần làm thăng hoa chữ Quốc Ngữ.  Được hưởng một thể chế chính trị tự do, bên trong vĩ tuyến 17 là một mảnh vườn trăm hoa đua nở cho sự phát triển của văn chương và nghệ thuật bằng chữ Quốc Ngữ.

Cuộc di cư năm 1954 đã thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật miền Nam những nơi hoạt động mạnh là Huế, Qui Nhơn, Nha Trang, Cần Thơ và nhất là Sài Gòn. Sài Gòn đã là nơi sinh hoạt báo chí và văn học nghệ thuật chủ yếu.  Nhiều nhà báo và văn nghệ sĩ gốc miền Trung và Bắc đã đến lập nghiệp hoặc cộng tác.  Giai đoạn văn học này có sự đóng góp của nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng hay tập trung ở các tạp chí như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, v.v.  Văn học miền Nam trước 1975 đã chứng tỏ một sức sống mãnh liệt, đa dạng, khai phóng, rộng mở đón nhận những trào lưu hoa văn học thế giới đông-tây.

Chữ Quốc ngữ thời Việt nam Cộng Hòa

Chữ Quốc Ngữ rất đa dạng là vì chức năng ghép thêm nhiều ngôn ngữ khác vào như chữ Hán, chữ Pháp, chữ Anh…

Giai Đoạn Phát Huy (1975-Hiện Tại)

Tiếng Việt khá phong phú trong lãnh vực văn chương, đặc biệt trong thơ ca, nhưng còn giới hạn nhiều trong các lãnh vực chuyên môn như y khoa và công nghệ.  Chúng ta, Người Việt trong và ngoài nước, cần phải phát huy Tiếng Việt để đáp ứng nhu cầu phát triển của thế giới đặc biệt trong các lãnh vực như: Khoa học, Khoa công nghệ, Khoa y, Khoa tâm lý, Khoa luật, và những lãnh vực mà chúng ta đang tiếp cận với thế giới văn minh nhưng còn giới hạn nhiều về ngôn ngữ.

Vài đề nghị:

– Tiếp tục sử dụng tiếng Việt cách thăng hoa và tích cực làm động lực cho giới trẻ yêu mến và học tiếng Việt.  Nhất là ở Hải Ngoại, khi con em chúng ta quen tiếng Anh và không thấy nhu cầu học tiếng Việt, làm sao để các cháu yêu thích Tiếng Việt là trách nhiệm của mỗi chúng ta.
– Tăng cường hợp tác để dạy và phát huy Tiếng Việt tại nhà cũng như tại các trung tâm Việt Ngữ cách có hiệu quả.
– Thành lập một Hàn Lâm Viện Chữ Quốc Ngữ Hải Ngoại để phát huy tiếng Việt một cách đúng đắn và chuẩn mực.  Hàn Lâm Viện này có thể lên tiếng khi có những cá nhân hay tổ chức cố ý sửa đổi Tiếng Việt cách lệch lạc như trường hợp của thầy giáo Bùi Hiền.
– Tạo nên những từ vựng mới cho những lãnh vực chuyên môn vì có rất nhiều lãnh vực chuyên môn luôn biến chuyển mà Tiếng Việt chưa có hoặc chưa đủ từ vựng để sử dụng khiến chúng ta phải vay mượn rất nhiều tiếng nước ngoài.

Mục Sư, Tiến Sĩ Phan Phước Lành